nhung-dieu-can-biet-ve-xet-nghiem-phat-hien-benh-dai-thao-duong-1

Những điều cần biết về xét nghiệm phát hiện bệnh đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường là một trong những căn bệnh phổ biến trong xã hội ngày nay. Bệnh thường diễn biến âm thầm nên rất khó phát hiện. Nếu không được tầm soát và điều trị đái tháo đường có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như bệnh về tim mạch, thận, mắt…

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới WHO, bệnh đái tháo đường đang ảnh hưởng đến hơn 400 triệu người trên toàn cầu. Nếu không có sự tăng cường về nhận thức và can thiệp kịp thời về y học, tiểu đường sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu đe dọa tính mạng con người vào năm 2030. Nguyên nhân chính khiến đái tháo đường ngày càng phổ biến là do tình trạng béo phì, lười vận động, chế độ dinh dưỡng thiếu cân bằng. 

Trên thực tế, có nhiều bệnh nhân khi có dấu hiệu biến chứng nặng mới đi khám và làm các xét nghiệm phát hiện bệnh đái tháo đường. Lúc này việc điều trị thường không mang lại kết quả khả quan và thường vô cùng tốn kém. Cùng Khám sức khỏe Hồng Ngọc tìm hiểu về xét nghiệm tiểu đường để nâng cao nhức về bệnh lý cũng như có kế hoạch tầm soát sớm mầm bệnh đái tháo đường.

nhung-dieu-can-biet-ve-xet-nghiem-phat-hien-benh-dai-thao-duong-3

Bệnh đái tháo đường là gì?

Bệnh đái tháo đường hay còn gọi là tiểu đường, là bệnh lý rối loạn chuyển hóa mạn tính. Bệnh làm mất đi khả năng sử dụng hoặc sản sinh ra insulin của cơ thể. Người mắc bệnh tiểu đường có lượng đường trong máu vượt quá mức quy định. Nếu không được điều trị tình trạng này sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe như mù lòa, suy giảm chức năng lọc máu của thận, bệnh tim mạch, huyết áp và các bệnh về thần kinh.

Bệnh đái tháo đường có những loại nào?

Có 3 loại chính:

– Tuýp 1: Là chứng rối loạn tự miễn với thường xuất hiện sớm ở độ tuổi khá trẻ, trong đó hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào tuyến tụy thay vì các yếu tố bên ngoài. Nguyên nhân có thể do di truyền, các yếu tố môi trường, do chế độ ăn uống thiếu vitamin D, sử dụng nhiều sữa bột có nguồn gốc từ động vật, ăn nhiều loại ngũ cốc trước 4 tháng tuổi…

– Tuýp 2: Còn gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin, là loại phổ biến nhất, chiếm trên 90% tổng số bệnh nhân bị tiểu đường. Bệnh xuất hiện ở độ tuổi trưởng thành do ảnh hưởng của tình trạng béo phì, lười vận động… Khi mắc đái tháo đường tuýp 2, các tế bào trở nên đề kháng với insulin, và tuyến tụy không sản sinh ra đủ lượng insulin để vượt qua sự đề kháng này. Thay vì di chuyển vào các tế bào để tạo ra năng lượng, đường sẽ tích tụ lại trong máu.

– Tiểu đường thai kỳ: Chỉ xảy ra ở phụ nữ mang thai và có thể gây ra biến chứng nặng nề cho cả mẹ và thai nhi nếu không được điều trị. Bệnh thường biến mất sau khi chuyển dạ. 

nhung-dieu-can-biet-ve-xet-nghiem-phat-hien-benh-dai-thao-duong-2

Xét nghiệm bệnh đái tháo đường gồm những gì?

Xét nghiệm glucose trong máu

Có 3 xét nghiệm thường được chỉ định để xác định lượng glucose trong máu, đó là:

Định lượng glucose máu ngẫu nhiên: Đây là tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh tiểu đường. Nếu chỉ số đường huyết tại thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l, thì bệnh nhân được kết luận là mắc bệnh đái tháo đường. Khi làm xét nghiệm này bệnh nhân không cần quan tâm xem đã ăn uống hay chưa, ăn trong bao lâu… Tuy nhiên, nếu chỉ số thấp hơn 7,8mmol/l, thì bệnh nhân cần được chỉ định làm thêm xét nghiệm khác để xác định chính xác có bị tiểu đường hay không.

Định lượng glucose máu lúc đói: Đây là xét nghiệm hay được dùng nhất hiện nay để chẩn đoán bệnh tiểu đường. Nếu như bệnh nhân trong 2 xét nghiệm đường máu lúc đói gần nhau có kết quả ≥ 7,0 mmol/l thì được coi là mắc bệnh đái tháo đường.

Nghiệm pháp dung nạp glucose: Đây là nghiệm pháp có giá trị khẳng định trong chẩn đoán bệnh đái tháo đường. Bệnh nhân sẽ được chỉ định lấy máu để định lượng glucose lúc đói. Sau đó uống 75g glucose hòa tan trong nước, và tiến hành lấy máu bệnh nhân định lượng lại nồng độ glucose tại các thời điểm 30, 60, 90 và 120 phút sau khi uống. Nếu kết quả định lượng glucose ở thời điểm 120 phút và một thời điểm nào đó trong 3 thời điểm 30, 60 và 90 phút mà ≥ 11,1 mmol/l thì bệnh nhân được chẩn đoán là đái tháo đường.

nhung-dieu-can-biet-ve-xet-nghiem-phat-hien-benh-dai-thao-duong-4

Xét nghiệm glucose trong nước tiểu

Trước kia đây là một xét nghiệm được dùng để phát hiện và đánh giá tình trạng bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, hiện nay xét nghiệm này ít được sử dụng vì kết quả xét nghiệm không đánh giá chính xác được đối với những trường hợp bệnh nhân có đường huyết không quá cao.

Xét nghiệm HbA1c

Chỉ số HbA1c cho biết lượng đường huyết trung bình 3 tháng trước đó. Vì vậy, định lượng HbA1c là xét nghiệm tốt nhất để theo dõi kiểm soát đường huyết, giúp bác sỹ đánh giá hiệu quả của quá trình điều trị.