Những điều cần biết về thuốc trị viêm loét dạ dày tá tràng

Viêm loét dạ dày tá tràng là bệnh đường tiêu hóa rất phổ biến hiện nay. Các kiến thức về các loại thuốc điều trị bệnh này sau đây sẽ rất hữu ích, giúp bạn chủ động dùng thuốc trong mọi trường hợp.

 

Sử dụng kháng sinh phù hợp tiêu diệt vi khuẩn HP

Nếu người bệnh được xác định nhiễm vi khuẩn HP qua các xét nghiệm, bác sĩ sẽ chỉ định các kháng sinh đường uống để điều trị viêm loét dạ tá tràng. Các kháng sinh được sử dụng tùy thuộc vào từng khu vực và tỉ lệ kháng kháng sinh đang lưu hành.

Sau đây là các kháng sinh có hiệu quả tiêu diệt vi khuẩn HP: Amoxicillin, tetracycline, clarithromycin hoặc azithromycin, metronidazole, tinidazole và levofloxacin. Vi khuẩn HP tương đối khó tiêu diệt vì thế nguyên tắc điều trị bệnh không dùng một loại kháng sinh đơn thuần mà phối hợp từ 2 đến 3 loại kháng sinh để đạt hiệu quả cao nhất.

Vi khuẩn HP là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh viêm loét dạ dày tá tràng.

Nhóm thuốc trung hòa dịch vị dạ dày(antacids)

Nhóm thuốc này chứa các thành phần muối nhôm, muối magie gồm các thuốc như Maalox, Gastropulgite, Alusi, … có tác dụng trung hòa acid dịch vị của dạ dày ngay lập tức khi sử dụng. Antacid có thể cải thiện các triệu chứng của bệnh nhưng nhìn chung thường không dùng để hỗ trợ làm lành vết loét.

Thời điểm dùng thuốc tốt nhất là sau bữa ăn từ 1 – 3 giờ (thời gian dịch vị dạ dày tiết nhiều nhất) và trước khi đi ngủ(hạn chế tình trạng đau bụng gây mất ngủ).

Ưu điểm: Các thuốc này tác dụng nhanh nên cơn đau và các triệu chứng đầy bụng, khó tiêu biến mất nhanh sau khi sử dụng. 

Nhược điểm: Thời gian tác dụng ngắn(thường chỉ kéo dài khoảng 3 giờ), nên người bệnh phải uống nhiều lần. Các kim loại như nhôm và magie gây nên xung đột, tương tác khi dùng cùng với các loại thuốc điều trị phối hợp khác, gây khó khăn cho quá trình điều trị. Các tác dụng phụ như táo bón hoặc tiêu chảy phụ thuộc vào thành phần chính của thuốc.

Ví dụ như, thuốc chứa magie gây nhuận tràng, tiêu chảy còn thuốc chứa nhôm có thể gây táo bón. Để khắc phục tình trạng này, các antacids thường phối hợp cả hai để giảm tác dụng không mong muốn này.

Các antacids nhanh chóng trung hòa dịch vị dạ dày, giúp giảm cơn đau tức thì.

Nhóm thuốc ức chế tiết acid dạ dày và đẩy nhanh tốc độ lành vết loét

Đây là nhóm thuốc ức chế acid dịch vị mạnh nhất và được sử dụng phổ biến rộng rãi hiện nay. Có nhiều loại thuốc như: Omeprazole, Lansoprazole, Pantoprazole, Rabeprazole, Esomeprazole. Các thuốc đều có cùng cơ chế hoạt động là ức chế hệ thống bơm proton(tạo tính acid cho dịch vị dạ dày).

Ưu điểm: Mức độ giảm acid mạnh, hiệu quả điều trị lâu dài, uống thuốc mỗi ngày một lần, tạo điều kiện thuận lợi cho tốc độ hồi phục bệnh viêm loét dạ dày tá tràng.

Nhược điểm: Người uống các loại thuốc này có thể mắc các tác dụng phụ của thuốc như rối loạn tiêu hóa, tăng men gan, khô miệng và tình trạng đau đầu, chóng mặt. Ngoài ra, do mức độ giảm acid trong dạ dày mạnh nên nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiêu hóa tăng.

Nhóm thuốc giảm tiết acid dạ dày kháng histamin ở thụ thể H2

Bằng cách ngăn chặn histamin tiếp xúc với thụ thể H2 ở dạ dày gây tác dụng giảm tiết acid dạ dày. Các thuốc trong nhóm này bao gồm: famotidine, ranitidine, cimetidine và nizatidine.

Hiệu quả giảm tiết acid của thuốc kháng histamin H2 cũng gần tương đương với nhóm ức chế bơm proton nhưng lại kém hơn nhiều khi người bệnh sử dụng trong thời gian dài.

Nhóm thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày

 Nhóm này gồm các loại thuốc như  Sucralfate, Bismuth, Misoprostol có tác dụng chung như sau:

  • Tăng cường các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày trước dịch vị tiêu hóa và pepsin; 
  • Các tế bào lớp biểu mô bề mặt của dạ dày được kích thích phát triển;
  • Lớp niêm mạc dạ dày được tăng tưới máu và kích thích bài tiết chất nhầy và bicarbonat.

Thuốc Sucralfate: Sucralfate khi vào trong dạ dày tá tràng sẽ hình thành nên một lớp bao bọc, bảo vệ trên vết loét. Từ đó, giúp vết loét tránh được các tác động của dịch vị, muối mật và các enzym dạ dày; đẩy nhanh tốc độ lành vết thương.

Nhược điểm: Gây tình trạng dị ứng, phát ban, táo bón hay giảm hấp thu các loại thuốc khác. Vì thế, người bệnh sử dụng nên uống các loại thuốc điều trị tách biệt với sucralfat, cách xa khoảng 2 tiếng đồng hồ.

Các muối bismuth: Làm tăng tiết dịch nhầy và bicarbonat, ức chế hoạt tính của pepsin giúp bảo vệ tế bào niêm mạc dạ dày. Thuốc có tác dụng bao phủ chọn lọc lên đáy ổ loét,  ngăn acid dạ dày tiếp xúc với các khu vực bị tổn thương.

Nhược điểm: Thuốc có thể gây buồn nôn, nôn và đen lưỡi, đen phân.

Các thuốc điều trị viêm loét dạ dày tá tràng.

Trong điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, bên cạnh việc dùng thuốc theo đúng yêu cầu của bác sĩ, người bệnh cũng cần có lối sống lành mạnh, chế độ làm việc hợp lý. Ví dụ như trong chế độ ăn hàng ngày, tránh các loại chất kích thích làm tăng dịch vị acid dạ dày như rượu, thuốc lá, các đồ ăn cay nóng. Trong quá trình lao động, tránh làm việc quá sức, giải tỏa mọi căng thẳng, stress hợp lý.