Bệnh loét dạ dày tá tràng: dấu hiệu nhận biết, nguyên nhân và cách điều trị

Bệnh loét dạ dày tá tràng là bệnh lý phổ biến ở mọi lứa tuổi và ngày càng có xu hướng gia tăng. Bệnh tuy không đe dọa tới tính mạng nhưng gây nhiều khó chịu cho người bệnh, ảnh hưởng lớn tới cuộc sống hàng ngày. Mọi người nên nhận biết và điều trị bệnh sớm giúp tránh các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

Dấu hiệu nhận biết bệnh loét dạ dày tá tràng

Đau bụng là triệu chứng cơ bản và duy nhất của loét dạ dày tá tràng chưa biến chứng. Đau của người bệnh có đặc điểm:

  • Đau lâm râm hoặc nóng rát vùng bụng trên rốn (vùng thượng vị), đôi khi đau lan ra sau lưng. Đau thường xuất hiện 2 – 3 giờ sau ăn, tăng lên khi đói và chiều tối hoặc nửa đêm gần sáng, cơn đau giảm khi dùng thuốc trung hòa dịch vị acid dạ dày.
  • Đau diễn ra trong vài ngày tới vài tuần, khiến người bệnh mất ngủ, ngủ không ngon giấc.
  • Đau có thể xuất hiện sau dùng thuốc giảm đau loại NSAIDs, rượu, chất kích thích như cà phê, sau đợt làm việc căng thẳng.
  • Một số triệu chứng khác ít gặp hơn: đầy tức bụng, ợ hơi, nấc, buồn nôn, nôn, mệt mỏi…

Đau bụng vùng thượng vị (khu vực bụng trên rốn) là dấu hiệu cơ bản của bệnh loét dạ dày tá tràng.

Vậy loét dạ dày tá tràng là bệnh gì?

Loét dạ dày hành tá tràng là bệnh của đường tiêu hóa, nguyên nhân do sự phá huỷ lớp niêm mạc dạ dày hành tá tràng, có thể lan xuống lớp dưới niêm mạc, lớp cơ thậm chí đến lớp thanh mạc và có thể gây thủng dạ dày. Cơ chế chủ yếu là do mất cân bằng giữa yếu tố bảo vệ và yếu tố gây loét.

Khi nhắc đến bệnh loét dạ dày, tá tràng, người bệnh có thể hiểu là loét dạ dày hoặc tá tràng hoặc cả hai. Loét dạ dày tá tràng là một bệnh thường gặp và phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ mắc bệnh loét dạ dày tá tràng tại Mỹ chiếm 10% dân số, tại Châu Âu tỷ lệ này là 6-15%, còn ở Việt Nam là 5-10% dân số.

Vị trí và hình ảnh khối loét dạ dày tá tràng.

Tại sao bệnh loét dạ dày tá tràng lại xảy ra?

Ở người bình thường không mắc bệnh, hệ thống dạ dày – tá tràng luôn cân bằng giữa 2 yếu tố, tấn công và bảo vệ, trong đó yếu tố tấn công gồm acid chlohydric (HCl) và pepsin của dạ dày tiết ra để tiêu hóa thức ăn. Để bảo vệ cơ thể khỏi sự tấn công này, dạ dày phát triển lớp niêm mạc và chất nhầy phủ lên, ngăn ngừa vết loét được hình thành.

Khi sự cân bằng này mất đi, do tăng cường tấn công mà không củng cố được lực bảo vệ hay sự suy yếu lực bảo vệ mà không giảm được tương ứng lực tấn công, vết loét dạ dày tá tràng dễ dàng xuất hiện.

Ổ loét dạ dày tá tràng là tổn thương làm mất niêm mạc, phá hủy qua cơ niêm xuống tới hạ niêm mạc hoặc sâu hơn.

  • Ổ loét non ( loét mới ): ổ loét có hình tròn hoặc hình bầu dục, miệng rộng, đáy thu nhỏ dần, xung quanh có phản ứng viêm nhẹ, xung huyết, bờ còn mềm mại.
  • Loét xơ chai ( loét cũ ): Quá trình xơ phát triển mạnh, đáy ổ loét rộng, quanh bờ ổ loét trở nên rúm ró, co kéo, mất tính mềm mại.

Nguyên nhân gây bệnh loét dạ dày tá tràng

  • Vi khuẩn Helicobacter pylori (HP): là nguyên nhân phổ biến nhất, gặp 75% ở người loét dạ dày và 90% ở người loét tá tràng. Vi khuẩn lây lan chủ yếu qua đường ăn uống.
  • Thuốc giảm đau dòng NSAIDs: Các thuốc này giảm bảo vệ niêm mạc dạ dày tá tràng, tạo thuận lợi hình thành ổ loét.
  • Hút thuốc lá: Các chất độc từ khói thuốc làm dạ dày suy yếu, tăng tỷ lệ nhiễm HP, tăng nguy cơ tái phát và tăng tình trạng ổ loét kháng điều trị.  
  • Yếu tố tâm lý: Tình trạng căng thẳng, tức giận, phiền muộn kéo dài làm mất cân bằng chức năng đường tiêu hóa, đường ruột ở người bệnh. Cơ thể tăng tiết dịch vị và pepsin khiến tầng bảo vệ niêm mạc bị thương tổn, hình thành bệnh loét dạ dày tá tràng.
  • Tình trạng tăng tiết acid bất thường: Nguyên nhân do các khối u tại dạ dày – Hội chứng Zollinger-Ellison.
  • Chế độ ăn không khoa học: Nhiều người thường xuyên ăn uống thất thường, không thành bữa hoàn chỉnh hay có các thói quen ăn nhanh, nuốt vội làm thức ăn chưa được nghiền nhỏ tăng gánh nặng cho dạ dày.

Các nguyên nhân thường gặp gây bệnh loét dạ dày tá tràng.

Phân biệt loét hành tá tràng và loét dạ dày

Loét hành tá tràng: thường cơn đau xuất hiện 2- 3 giờ sau ăn và giảm đi sau khi ăn hoặc dùng thuốc trung hòa acid dạ dày. 2 trên 3 bệnh nhân mô tả cơn đau khiến họ tỉnh dậy giữa đêm, xuất hiện vài ngày tới vài tuần, sau đó có 1 thời gian đỡ dài.

Loét dạ dày: đau thượng vị khó phân biệt được với loét hành tá tràng, tuy nhiên bệnh có xu hướng xuất hiện sớm hơn sau ăn, và giảm đau do thuốc và thức ăn có thể không rõ ràng. Các kiểu loét dạ dày thường gặp:

  • Type 1: loét góc bờ cong nhỏ (60%);
  • Type 2: loét thân vị kết hợp với loét tá tràng;
  • Type 3: loét tiền môn vị (20%);
  • Type 4: loét cao ở phần đứng của bờ cong nhỏ.

Chẩn đoán bệnh loét dạ dày tá tràng

Khi thấy các dấu hiệu bệnh kể trên, người bệnh nên đi khám bác sĩ để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân và cách điều trị cho phù hợp. Các phương pháp chẩn đoán bệnh bao gồm:

Nội soi dạ dày: Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh. Phương pháp này có độ chính xác rất cao (85 – 90 %). Qua nội soi thầy thuốc có thể xác định chính xác vị trí, kích thước, mức độ và khả năng tái phát của ổ loét chảy máu.

Xét nghiệm máu: đánh giá tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân.

Xét nghiệm tìm vi khuẩn HP.

Xét nghiệm phân: xác định tình trạng phân có lẫn máu không.

Qua nội soi, vết loét dạ dày tá tràng trải qua 3 giai đoạn sau:

  • Giai đoạn hoạt động : Hình tròn, ovan, hoặc hình kỳ dị, thường kích thước < 1cm, bờ rất phù nề, phủ bởi fibrin, màu hơi lục hoặc hơi vàng hoặc hơi trắng. đáy có cục máu đông hoặc nhìn thấy mạch ( điểm đốm đen 1-2mm).
  • Giai đoạn lành ổ loét: Bờ ổ loét gờ lên và ít đều hơn, sung huyết nhiều từ ngoại vị đến trung tâm ổ loét, sợi tơ huyết phủ đáy ổ loét, đáy ổ loét màu hơi đỏ.
  • Giai đoạn liền sẹo: Điểm trắng, teo niêm mạc, nếp niêm mạc hội tụ vào trung tâm sẹo.

Các biến chứng của viêm loét dạ dày tá tràng

Xuất huyết tiêu hoá trên là biến chứng thường gặp nhất của bệnh gây chảy máu đường tiêu hóa biểu hiện như:

  • Đi ngoài phân đen, có hoặc không kèm nôn máu;
  • Nếu chảy máu nhiều, người bệnh xuất hiện tình trạng thiếu máu cấp: da xanh, niêm mạc nhợt, có thể dẫn tới tình trạng shock mất máu: mạch nhanh, huyết áp tụt.

Nội soi giúp xác định ổ loét và xác định yếu tố nguy cơ chảy máu tái phát dựa trên phân loại Forrest và can thiệp nội soi cầm máu đối với ổ loét đang phun máu, rỉ máu, có cục máu đông bám hoặc thấy điểm mạch (là những ổ loét có nguy cơ tái phát chảy máu cao).

Hẹp môn vị: biến chứng này thường do loét hành tá tràng hoặc loét ống môn vị biểu hiện như

  • Giai đoạn sớm: người bệnh thấy đầy bụng, chậm tiêu.
  • Giai đoạn muộn: tình trạng nôn sau ăn vài giờ, nôn ra thức ăn cũ.

Thủng dạ dày: Biến chứng ít gặp tuy nhiên người bệnh cần được cấp cứu kịp thời, tránh tình trạng mất máu quá nhiều có thể gây tử vong.

Thủng dạ dày gây tình trạng chảy máu trong dẫn đến nguy cơ tử vong ở bệnh loét dạ dày tá tràng.

Điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng

Nguyên tắc điều trị bệnh

Mục tiêu của điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng là giảm đau và ngăn ngừa biến chứng do loét như: chảy máu, tắc ruột và thủng dạ dày. Bước thứ nhất là loại trừ các yếu tố nguy cơ gây bệnh, bước tiếp theo là dùng thuốc chống loét rồi phòng ngừa các yếu tố nguy cơ phòng ngừa bệnh quay trở lại.

Thông thường, thời gian trung bình điều trị từ 4 đến 8 tuần và tái khám, kiểm tra nội soi sau 4 tuần điều trị. Sau 8 tuần nếu không đỡ trên nội soi, người bệnh nên nội soi nhuộm màu, siêu âm nội soi tìm các bệnh bất thường khác. 

Các loại thuốc điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng

  • Nhóm thuốc kháng acid (Antacid): Là các thuốc có chứa thành phần nhôm và magie hydroxit, có tác dụng trung hoà acid không ảnh hưởng đến bài tiết dịch vị cũng như pepsin.
  • Nhóm ức chế thụ thể histamin H2: Có nhiều thế hệ thuốc: Cimetidin, ranitidin, nizatidin, famotidin, roxatidin. Các thuốc thế hệ sau có ưu điểm tác dụng ức chế bài tiết acid mạnh hơn và ít tác dụng phụ hơn so với các thuốc thế hệ trước:
  • Nhóm ức chế bơm proton: Đây là nhóm thuốc ức chế acid dịch vị mạnh nhất hiện nay. Có nhiều thế hệ thuốc như: Omeprazole, Lansoprazole, Pantoprazole, Rabeprazole, Esomeprazole.
  • Nhóm bảo vệ niêm mạc dạ dày: Nhóm này gồm Sucrafate, Bismuth, Misoprostol có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày trước dịch vị tiêu hóa.
  • Nhóm các kháng sinh diệt vi khuẩn HP: Hiện nay, các chuyên gia đều công nhận rằng HP là nguyên nhân chính gây bệnh loét dạ dày tá tràng. Vì vậy, trong điều trị bệnh, diệt HP là một chỉ định không thể thiếu.

Vi khuẩn HP là loại vi khuẩn khó tiêu diệt nên người bệnh cần tham khảo các bác sĩ. Các kháng sinh hiện có hiệu quả diệt vi khuẩn HP: Amoxicilin, tetracyclin, clarithromycin hoặc azithromycin, metronidazol, tinidazol…

Vi khuẩn HP là yếu tố cần được xem xét đầu tiên khi nghi ngờ bệnh loét dạ dày tá tràng.

Phòng bệnh loét dạ dày tá tràng

  • Không dùng các chất kích thích: cà phê, thuốc lá. 
  • Nghỉ ngơi: giai đoạn tiến triển, người bệnh nên nghỉ ngơi hoàn toàn, tránh stress. Khi bệnh vào giai đoạn ổn định, người bệnh làm việc bình thường, tránh gắng sức.
  • Tránh các yếu tố nguy cơ: Không dùng các thuốc gây tổn thương dạ dày như thuốc giảm đau dòng NSAIDs, các loại thuốc chống viêm Corticoid… 
  • Các thực phẩm nên ăn: chuối, bánh mì, nước ép táo, nước dừa, sữa chua, nghệ và mật ong, cơm… Giai đoạn tiến triển, người bệnh nên ăn các thức ăn lỏng, thái nhỏ, nấu chín kỹ, dễ tiêu, chia thành nhiều bữa giúp dạ dày thường xuyên có thức ăn để trung hòa được acid. 
  • Tránh các thực phẩm không có lợi cho dạ dày như: thực phẩm gây tăng acid dạ dày có tính chua như cam, chanh, quýt, xoài, khế, dấm; các thực phẩm sinh hơi, chướng bụng như giá đỗ, dưa cà muối, hành, cần tây…
  • Tập thói quen ăn uống khoa học. lành mạnh: ăn chậm, nhai kỹ; ăn uống đúng giờ, không bỏ bữa, không ăn quá no.
  • Không tự ý sử dụng thuốc kháng sinh – thuốc giảm đau: Khi dùng các thuốc cần tham khảo ý kiến bác sĩ để được sử dụng các thuốc thích hợp ít tác dụng phụ trên dạ dày hoặc sử dụng cùng các thuốc hỗ trợ dạ dày.